VƯỢT QUA SỐ PHẬN

ĐẤNG ĐẾM TÓC – Lm. Minh Anh, Huế

“Vì Danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình”.

Những lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ trên đây vừa là dặn dò vừa là an ủi; vừa là khuyên răn vừa là hứa hẹn; vừa là cảnh báo vừa là vỗ về. Những lời xem ra không mấy lạc quan nhưng lại là những lời chứa chan hy vọng.

Chúa Giêsu không chỉ nói những lời đó với các môn đệ ngày xưa, nhưng cho môn đệ mọi thời, trong đó có chúng ta. Ngài không giấu nhẹm một điều gì, Ngài nói đến bắt bớ, hạch xách, tù đày; nói đến chia rẽ, phân hoá và đấu tố mà người môn đệ phải chịu vì Danh Ngài. Nhưng cuối cùng, Ngài kết luận, “Đừng sợ, dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu độ”, nghĩa là vì Danh Chúa, anh em hãy cứ hy vọng, cứ trung thành ắt sẽ được ân thưởng.

Trong thế chiến thứ hai, một bé gái người Đức gốc Do Thái ở tuổi mười ba tại Hoà Lan có tên là Anna Frank, cùng với gia đình trốn chui trốn nhủi trên một gác xép tối tăm suốt hai năm liền. Họ nơm nớp lo sợ từng ngày rồi đây sẽ bị người Đức phát hiện. Suốt thời gian đó, em đã viết lại những gì đã xảy ra. Anne Frank viết như một người lớn, như một nhà văn. Em viết:

“Ở tuổi thiếu niên, chúng tôi đã phải khốn khổ gấp hai lần để có thể sống còn trong hoàn cảnh này, một hoàn cảnh khi mà mọi lý tưởng và ước vọng đều tiêu tan ngay cả ước vọng được sống, một hoàn cảnh khi mà con người đang phơi bày mặt trái tồi tệ của họ bằng giết chóc, diệt chủng và một hoàn cảnh khi họ không biết mình còn tin ở sự thật, ở lẽ phải và tin có Chúa hay không.

Ấy thế, phần tôi, bất chấp mọi cùng khốn và bạo tàn con người gây ra cho hằng triệu đồng loại, tôi vẫn tin rằng, tự bên trong, con người vẫn hướng về điều lành. Khi mà thế giới đang trở nên hoang mạc, hàng triệu sinh linh đang rên siết trong cơn hấp hối, thì tôi vẫn ngước mắt lên trời để nghĩ rằng, rồi thì mọi sự cũng kết thúc, bạo tàn sẽ qua đi và ngày kia hoà bình và yên ổn sẽ trở lại”.

Đó là những ý tưởng lạ lùng bộc lộ một niềm hy vọng và một niềm tin lớn lao của một em bé; đúng hơn, của một con người giữa cùng khốn, giữa chết chóc khi sự sống được đếm từng giờ. Tội nghiệp, em đã không bao giờ thấy ngày hoà bình và yên ổn trở lại. Vào một đêm giông bão, có tiếng gõ cửa chết người vào gác xép, cả nhà bị bắt và tan tác mỗi người một ngã. Tại trại Belsen, Anna Frank bị giam trong phòng hơi ngạt cho đến chết, chuyện xảy ra năm 1944. Chiến tranh kết thúc, người sống sót duy nhất là cha của em, Otto Frank, ông về lại gác xép và người thư ký đã đưa cho ông cuốn nhật ký. Ông đánh máy lại và phát hành nhật ký của con. Ấn bản bằng tiếng Hoà Lan xuất hiện năm 1947, cuốn sách được dịch sang 55 ngôn ngữ và đã bán được trên 25 triệu cuốn. Ước mơ trở nên một nhà văn của Anne Frank đã thành hiện thực.

Ngày nay, tuy không còn phải chịu những khổ đau dữ tợn như trong thời các thánh tử đạo, thời của Đức quốc xã, hay thời cải cách đấu tố của miền Bắc, nhưng chúng ta vẫn đang phải đối diện với những cuộc tấn công khác có thể còn nguy hiểm gấp bội. Đó là chủ thuyết tương đối, đó là sức mạnh của tiền bạc, địa vị, tự do buông thả. Những thử thách này đã làm cho bao nhiêu tín hữu gục ngã, đã lôi kéo bao linh hồn rời xa Hội Thánh và lãng quên Thiên Chúa.

“Lạy Chúa, Đấng không chỉ có tên “Xót Thương” nhưng còn là “Đấng Đếm Tóc”, xin cho con biết rằng, mức độ con phó thác tuỳ thuộc mức độ con gieo mình vào lòng xót thương của Chúa”, Amen.

Lm. MINH ANH, Giáo Phận Huế

Nếu Quý Vị thấy hữu ích, hãy chia sẻ bài viết này !

Gửi phản hồi

Người đăng tin

Lm. Giuse Lê Quang Uy, DCCT

Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế