VUI SỐNG TIN MỪNG

BỎ LẠI BÊN KIA CẦU


Kính thưa Anh Chị em,

Ở Hà Úc, xứ tôi đang coi sóc, từ khi chiếc cầu mang tên Trường Hà được đưa vào sử dụng, thì con đường về các làng quê miền duyên hải Vinh Thanh, Hà Úc, Phường Tây, Vinh Hoà dọc đầm Thuỷ Tú, xuôi về Tuý Vân, qua cảng Chân Mây, mãi đến Tư Hiền… dường như ngắn lại; đôi bờ Phú Vang xích lại gần nhau và giờ đây, với Hà Úc, Huế không còn xa như ngày xưa vốn phải đi và về mất trọn một ngày; sân bay Phú Bài giờ đây như lối xóm… Vậy là trong mọi lãnh vực, đời sống cư dân vùng quê ở đây bắt đầu chuyển mình và thay da đổi thịt để dịch chuyển từ một nếp sống thôn làng sang một nếp đua đòi văn minh như nếp sống của một thành phố trẻ; dịch chuyển từ nhà cửa, từ trang phục cho đến các phương tiện đi lại…

Cũng thế, nếu cứ loay hoay tìm kiếm những gì thuộc tầm thấp, con người vẫn mãi nghèo nàn, dung dị; vậy, phải có một cái gì đó cao hơn, vĩnh cửu hơn… một cái gì đó thuộc thế giới thần linh vốn sẽ trường tồn, bền bỉ. Đời sống phàm nhân và đời sống thần linh như hai bờ ngăn cách của một dòng sông; và như thế, phải có một nhịp cầu thiêng giúp người phàm tục nối với thiên linh.

Tin Mừng hôm nay nói đến chiếc cầu Giêsu nối liền hai bờ ngăn cách giữa đất và trời đó. Giữa một trưa hè, bên bờ giếng Giacóp, Đức Giêsu gặp một phụ nữ Samaria ngoại giáo. Thoạt đầu, chị nhìn Ngài với ánh mắt khinh thị. Trong mắt chị, đó là một gã Do Thái; tệ hơn, anh chàng này nghèo mạt rệp, đang đói, đang khát. Chị hợm mình, vì chị có tất cả, chị có giếng nước của cha ông, chị có chồng, có đền thờ. Với người Do Thái, có nước là có tất cả; ai có nguồn nước, người ấy lập tức trở nên giàu có. Trách nào chị chẳng hợm mình.

Thế nhưng, Đức Giêsu đã phá tan sự an thân giả tạo của chị. Ngài cho chị thấy giếng nước của chị là phù du vì giếng ấy không cho nước hằng sống; Ngài cho chị thấy hạnh phúc chị đang có chỉ là hư ảo, vì hạnh phúc ấy dựng xây trên những mối duyên hờ; Ngài cho chị thấy niềm tin của chị vào đền thờ là nguỵ tín, vì đền thờ chỉ là gạch đá vô hồn, không có Đấng Toàn Năng ngự bên trong. Trong phút chốc, chị trở nên nghèo nàn. Trước kia chị tưởng mình có tất cả, nay chị thấy mình trắng tay; trước kia chị tưởng mình giàu có, nay chị nhận thức mình nghèo vô song; bóc đi tất cả những lớp vỏ bèo bọt, chị thấy mình khốn cùng.

Người phụ nữ không ngờ, con người xa lạ mà chị chưa một lần gặp này dường như biết chị tỏng tòng tong. Người ấy vừa gợi lên nơi chị thảm kịch đời mình. Cho đến lúc này, chị thấy vui vui khi nghe người đàn ông này nói, Ngài đã nói cho chị về một thứ nước kỳ diệu. Chị đã bông đùa, nhưng ở đây, bỗng dưng toàn bộ tâm tư của chị bị vạch trần… với những giông tố, những vết thương lòng cùng với sa mạc hoang vu của nó. Ở đó, giếng sâu cuộc đời, giếng sâu của những cuộc tình liên tiếp, của những hy vọng đắng cay, những thất bại của chị cũng được mở toang; giếng của niềm khát khao, nơi không còn rỉ ra một thứ nước làm cho vui sống; một cái giếng há hốc, trống rỗng hoàn toàn cạn kiệt như ‘mảnh đất hoang khô cằn không giọt nước’.

Nhát gươm thứ nhất vung lên, một mảnh vảy mắt rơi xuống, chị nhìn ra người đối thoại “lớn hơn tổ phụ Giacóp”; nhát gươm thứ hai vung lên, một mảnh vảy nữa rơi xuống, chị nhận ra Ngài là “một ngôn sứ”; nhát gươm thứ ba vung lên, mảnh vảy cuối cùng văng ra, chị nhận biết Ngài là “Đấng Cứu Thế” và chị tin vào Ngài. Niềm tin trào dâng, hạnh phúc dâng trào, chị quên cả nước, quên cả bình, chạy về làng báo tin vui. Chị để quên bình, vì chiếc bình từ nay trở nên vô dụng. Cùng với chiếc bình, chị bỏ lại cả giếng nước, cả người chồng hờ, cả ngôi đền thờ trống.

Lời Chúa như gươm sắc bén chẻ đôi đời chị. Mảnh đời cũ, chị để lại bên giếng, kho tàng của trần gian; mảnh đời mới, chị ngụp lặn trong dòng suối đức tin, kho tàng thiên quốc. Nhờ Lời Chúa là ngọn đèn soi bước, chị bước những bước lẹ làng vững chắc hướng về một sự sống mới. Lời Chúa là nhịp cầu đưa chị vào đời sống thần linh.

Chị bỏ lại bên kia cầu chiếc bình kín nước, vì bên này cầu, chị đã có mạch nước trường sinh; chị bỏ lại bên kia cầu những mối duyên hờ, vì bên này cầu chị đã gặp được tình yêu đích thực; chị bỏ lại bên kia cầu đền thờ trống rỗng, vì bên này cầu chị gặp được Đấng chị phải tôn thờ trong tinh thần và chân lý.

Như cánh đại bàng, chị bay bỗng lên trời cao, những đường bay đẹp nhất. Người phụ nữ vốn có năm tấm chồng này nằm trong số những con người tổn thương mà trước tiên cho họ, Đức Giêsu được sai đến. Cái nhìn Ngài dành cho chị làm một với cái nhìn xót thương của Cha trên trời. Chỉ vì chị mà Đức Giêsu chọn con đường này, chính chị là người mà Ngài mong mỏi bên giếng Giacóp; chính vì chị mà Ngài đã đến trần gian, để gặp, để mặc khải cho chị sự dịu hiền của Chúa Cha, để nói với chị rằng, chị được Chúa Cha thương mến, từ đời đời; đồng thời, để đánh thức nơi chị niềm khát khao sự sống mà bí mật của nó ở nơi Ngài, “Ai uống nước Tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa”. Cái nhìn của Ngài còn giục giã chị tìm biết một Đấng Kitô, để rồi Ngài xác nhận với chị, “Ðấng ấy chính là Tôi, người đang nói với chị đây”. Không chút khiển trách, nhưng từ chốn thăm sâu nhất của thất vọng và khát khao của chị, Ngài chỉ muốn khơi mạch khát khao đích thực nơi chị, từ cõi tâm cuộc sống của chị, và nói với chị rằng, “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa!”. Và rồi, trút bỏ mọi gánh nặng kéo ghì đôi cánh, Ngài cho chị bay vút lên cao.

Anh Chị em,

Người phụ nữ đó đã qua bên kia cầu, còn chúng ta, phải chăng chúng ta vẫn ở bên này cầu. Những gì người phụ nữ bỏ lại, có lẽ chúng ta đang ôm lấy và mang về khi chúng ta vẫn còn ôm ấp những ước mơ trần tục. Của cải, chức quyền, vui thú có lẽ vẫn là những tảng đá ngăn chặn dòng nước đức tin; những nguỵ tín, những ảo tưởng, những thứ đạo đức hình thức, giả hiệu vẫn còn che chắn không cho chúng ta nhận biết sự đáng thương của mình và nhận biết Thiên Chúa đang ẩn tàng trong linh hồn mình. Và vì thế, chúng ta không bao giờ gặp được Người dẫu cho mùa Chay đã đi được một nửa.

Trong cuốn Tự Thuật, Thánh Augustino viết: “Con trở thành điều bí ẩn quá lớn đối với chính con; con tự hỏi lòng mình, ‘Tại sao mi buồn, và tại sao mi làm ta buồn?’, nhưng nó không biết trả lời. Rồi khi con nói, ‘Hãy cậy trông vào Chúa’, nó cũng giả vờ… không nghe”. Mười tám năm trường rong ruổi chạy tìm hạnh phúc, Augustinô khác nào chú nai khờ khạo một sáng kia, vụt chạy tìm hương cỏ lạ, chạy mãi đến chiều… và khi trời tối, sa xuống lũng sâu; trong cơn hấp hối, chợt nhận ra mùi dạ thảo trong túi xạ hương trước yếm ngực mình… Nhìn lại quãng đời đã đi, Augustinô tâm sự, “Lạy Chúa, con thật xấu hổ khi mải tìm Chúa nơi các tạo vật, đang lúc Chúa, Đấng Tạo Thành, là ánh sáng, là hương thơm, là vẻ đẹp rạng ngời đang ở trong con. Con thật mù loà, điếc lác… khác nào chiên lạc khiến bao lần Chúa phải băng đèo lội suối đi tìm”. Augustinô trải nghiệm, khi con người vừa cất bước tìm Chúa, thì đã bao ngày, Ngài đã cất công kiếm nó; khi vừa đặt chân xuống suối để tìm ngọn nguồn thì chính dòng nước yêu thương đã chầm ôm dưới chân. Để rồi, Augustinô kết luận, “Lãng quên Thiên Chúa, có nghĩa là chết; tìm kiếm Thiên Chúa, có nghĩa là tái sinh; ở trong Thiên Chúa, có nghĩa là sống”.

“Lạy Chúa, nhiều người tưởng con hạnh phúc, no đủ; thế nhưng, chỉ mình Chúa biết con đang đói, đang khát. Mùa Chay, cơ hội cho con trở về, để con thoả lòng như Augustinô, như người phụ nữ bên bờ giếng”, Amen.

Lm. MINH ANH, Giáo Phận Huế

Nếu Quý Vị thấy hữu ích, hãy chia sẻ bài viết này !

Gửi phản hồi

Người đăng tin

Lm. Giuse Lê Quang Uy, DCCT

Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế