MẸ ƠI ĐOÁI THƯƠNG

Mẹ niềm cậy trông, chưa thấy ai xin Mẹ về không ( Kỳ 2 )

Ba Tran Thi Huong, BVSS

Chuyện thứ hai: Tôi sinh con đầu lòng

Tôi lập gia đình từ năm 1964, mà mãi tới năm 1968 mới sinh con đầu lòng. Ở Hà Nội thời chiến bắt đầu từ năm 1964. Sau Tết Mậu Thân năm 1968, Hà Nội đã hứng bom đạn của Mỹ thật ác liệt. Lúc bấy giờ mọi người sơ tán ra xa khỏi Hà Nội hàng trăm cây số. Cơ quan nơitôi làm việc trực thuộc Hà Nội nên vào diện phải ở lại Hà Nôi để… “bảo vệ Thủ Đô” ! Vậy mà tôi lại được miễn trừ vì đang có bầu. Chồng tôi cũng đã sơ tán theo trường Đại Học Bách Khoa lên đến tận biên giới Na Sầm, tỉnh Cao Bằng, cách Hà Nội hơn 300 cây số. Thế là coi như gia đinh ly tán bởi chiến tranh, không còn ai là người thân ở Hà Nội lúc bấy giờ.

Tôi nhớ rất rõ: Giữa bom đạn ngày 12.4.1968, tôi chạy từ nơi đang sơ tán về nhà tại 40B phố Hòa Mã, Hà Nội, để chuẩn bị ít tã lót, áo quần cho cuộc “vượt cạn”. Về tới nhà không gặp một ai kể cả hàng xóm. Trong tiếng bom đạn xé trời, loa truyền thanh oang oang: “Máy bay Mỹ cách Hà Nội 80 cây số, 60, 50, 40 và máy bay địch đã vào Hà Nội… Mời đồng bào xuống hầm trú ẩn gấp…” Với chiếc bụng bầu lặc lè, tôi làm sao có thể xuống hầm trú ẩn khi bắt đầu thấy đau quặn, trở dạ sanh con ?!?

Tôi ra khỏi nhà. Khi ấy mọi người đã xuống hầm trú ẩn an toàn cả rồi mà tôi thì vẫn một mình lững thững đi trong tiếng gầm rú của máy bay B52 và tiếng pháo cao xạ rầm rầm đáp trả. Tôi tìm đến nhà hộ sinh để “vượt cạn” một mình… Có nơitôi vừa đi qua, thì bom rơi trúng căn hầm có mấy người trú ẩn…

Lúc gian nguy, “khi gặp những sự thiếu thốn”, tôi thường chạy đến kêu cầu Mẹ Maria cứu giúp. Tôi thầm thĩ kêu xin Mẹ Maria, quan thầy của con, xin đến bên con lúc này… Và như có bàn tay vô hình nâng đỡ, tôi thấy mình như có một sức mạnh để yên tâm tiếp bước. Gần 12 giờ trưa, tôi biết mình đang trở dạ. Tôi cố lê bước đến nhà hộ sinh B chỉ cách nhà tôi có vài ba cây số mà phải mất hơn một giờ đồng hồ !

Cô y tá trực hỏi ráo hoảnh: “Có ai đi cùng không ?” Tôi trả lời: “Không !” Cô ấy tiếp tục căn vặn: Bom đạn rầm rầm thế này mà đi đẻ một mình à ?” Rồi cô chỉ tay nói trống không: “Vào kia, phòng tay trái ! Chuẩn bị thay áo váy đi…”

Vào phòng chờ sinh, cơn đau tiếp tục dồn dập hơn, tôi mệt rũ người, và cũng quên bẵng từ sáng tới giờ hơn mười mấy giờ đồng hồ chưa ăn uống gì cả. Bụng đói miệng khát, nhưng tôi vẫn cố gắng chịu đựng vì sau khi thăm khám, bác sĩ bảo: “Con so, chưa vỡ ối, còn lâu mới sinh…”

Tôi vừa ngả lưng thì cơn đau lại tiếp tục, không thể nằm được, tôi cố ngồi dậy kéo cỗ tràng hạt đang đeo trên cổ, miệng đọc 3 Kinh Kính Mừng rồi đọc tiếp kinh Hãy Nhớ: “Mẹ ơi ! Không ai kêu cầu Mẹ mà về không… Lúc này con đang trong cơn khốn khó gian nguy… Đi biển có bầu có bạn, còn con vượt cạn một mình ! Mẹ ơi, bên cạnh con không một người thân, xin Mẹ đến bên nâng đỡ con lúc con sinh nở Mẹ nhé…”

Tôi nghiến răng chịu đựng cơn đau suốt từ 12 giờ trưa ngày 12 sang đến 1 giờ sáng hôm sau, ngày 13.4.1968. Cơn đau của người sinh con, lại sinh con đầu lòng như tôi, thì cuộc trở dạ đau gấp nhiều lần người sinh con dạ, nghĩa là từ con thứ hai, thứ ba trở đi.

Đau quá, máu ra đầm đìa ướt cả váy. Tôi đến gặp bà bác sĩ trực đêm hôm đó xin được khám, bác sĩ hỏi: “Đau lâu chưa, đã vỡ ối chưa ?” Tôi trả lời: “Chưa ạ !” Bác sĩ tiếp tục phán: “Con so. Chưa vỡ ối. Vào giường nằm, còn lâu mới sinh !” Người với người, cùng là phụ nữ với nhau cả, vậy mà không được lấy một câu an ủi sẻ chia. Thái độ bác sĩ và y tá XHCN là vậy đấy, lạnh lùng, vô cảm trước người bệnh !

Tôi đau đớn lê bước quay về giường… Qua ba lần xin bác sĩ và hộ lý thăm khám thì cả ba lần họ đều lạnh lùng trả lời như trên. Tôi đã kiệt sức vì đau và đói. Với cỗ tràng hạt trong tay, tôi nằm phó linh hồn chờ chết và xin Chúa cho con được chết lành trong tay Chúa và Mẹ Maria quan thầy của tôi. Máu ra đầm đìa cả váy áo và tấm drap giường như nhuộm đỏ. Tôi thiếp đi, có lẽ vào khoảng 11 giờ trưa…

Tôi đang lịm đi chờ chết hì rất may, có một bà bác sĩ từ bên Bệnh Viện Phụ Sản Trung Ương xuống kiểm tra những ca sinh khó của bệnh viện tuyến dưới. Tôi còn nhớ rõ bác sĩ tên Nguyệt. Tôi vừa chợt tỉnh thì lại thiêm thiếp đi, thế nhưng tai vẫn loáng thoáng nghe bà bác sĩ đến bên hỏi chị nằm giường cạnh tôi: Còn chị nào chưa khám không ? Có lẽ chị ấy đã chỉ vào tôi và nói với bác sĩ: “Chị này con so đến từ trưa hôm qua, băng huyết mà chưa sinh được…”

Bác sĩ Nguyệt quay sang nhìn thấy tôi “sắp chết” môi khô da tái, bà gọi hộ lý, y tá đến bế tôi đặt lên bàn khám, bà âu yếm an ủi và lấy nước cho tôi uống… Những lời nói, những cử chỉ âu yếm của bác sĩ Nguyệt như một sức mạnh làm cho tôi hồi tỉnh lại. Tôi thầm tạ ơn Chúa thương tôi, qua lời cầu bầu của Mẹ Maria, đã đến cứu tôi qua bàn tay của bác sĩ Nguyệt đây rồi.

Trên bàn sanh, tôi nghe các hộ lý, y tá quây chung quanh bác sĩ Nguyệt nói: “Con so lại chưa vỡ ối ?” Bác sĩ Nguyệt bảo: “Chưa vỡ ối thì bấm ối cho sanh, chứ để con người ta chết ngạt trong bụng sao ? Các chị đâu, bấm ối xong, mang máy hút ra…” Trước đó, vì là con so nên bác sĩ Nguyệt hướng dẫn tôi cách “vượt cạn”… Tôi đã làm theo hướng dẫn ấy nhưng khi cháu sinh ra, do ở quá lâu trong tử cung và vòng nhau cuốn cổ, cháu đã ngạt thở và tím đen, không khóc nổi… Bác sĩ liền cầm chân cháu giốc ngược đầu xuống, phát nhẹ vào mông cháu, và cuối cùng cháu đã cất tiếng khóc chào đời đúng vào 12 giờ trưa 13.4.1968, sau đúng một ngày thập tử nhất sinh…

Maria TRẦN THỊ HƯỜNG, Nhóm BVSS Hà Nội ( Còn tiếp kỳ 3 )
Báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp số 19

Nếu Quý Vị thấy hữu ích, hãy chia sẻ bài viết này !

Có 1 phản hồi

  • Hãy trông cậy Mẹ Hằng Cứu Giúp luôn cứu giúp chung ta những lúc gian nan khốn khó trong đời

Gửi phản hồi

Người đăng tin

Lm. Giuse Lê Quang Uy, DCCT

Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế