CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH

SÓNG DI CƯ


IOM ( Tổ chức Di Cư quốc tế ) cho rằng, Việt Nam đang diễn ra một “làn sóng di cư thứ tư”. Ba làn sóng trước là vào các thời điểm: Pháp rút khỏi Việt Nam sau khi ký Hiệp định Geneve 1954; Mỹ rút khỏi Việt Nam trước 30/4/1975; và thuyền nhân trong những năm 1979-1982.

“Làn sóng thứ tư” này tuy không diễn ra tập trung như trước, nhưng lại là một dòng chảy âm thầm rất mạnh mẽ. Trong dòng chảy đó, những người có tài sản hoặc các chủ doanh nghiệp thì lặng lẽ thu dọn dần để chuyển việc đầu tư và mua tài sản nước ngoài; giới trẻ tìm đường đi và ở lại thông qua con đường du học hoặc lao động tay nghề ( skilled worker ); những phận dân bèo bọt thì cố vay mượn đi xuất khẩu lao động chui, những cô gái miền Tây nam bộ đi bán thân khắp thế giới bằng visa du lịch và là miếng mồi ngon cho bọn ma cô buôn người.

Điều tích cực mang lại là Việt Nam đang thuộc top 10 thế giới về nhận kiều hối. Đó là tiền mồ hôi, nước mắt, cả máu và mùi khắm của những người ra đi.

Hồi đầu tháng 10 vừa qua, hãng Tư Vấn Đầu Tư và Định Cư Henley & Partners đã công bố bảng xếp hạng hộ chiếu quyền lực thường niên 2019. Theo bảng xếp hạng này, hai quốc gia châu Á là Nhật và Singapore đều nắm giữ vị trí hàng đầu thế giới vì công dân của hai nước này có thể tự do đi lại 190 quốc gia. Hàn Quốc giữ vị trí thứ hai với 188 điểm đến miễn thị thực, đồng hạng với Đức và Pháp. Còn hộ chiếu Việt Nam đứng thứ 90 trong 107 nước được xếp hạng, thấp hơn Lào và Campuchia, và đang tiến gần hơn về phía nhóm 10 quốc gia bị xếp loại “hộ chiếu tệ nhất”, bao gồm Bắc Triều Tiên, Somalia, Syria, Iraq, hay Afghanistan…

Thảm kịch 39 nạn nhân tại Anh đang tràn ngập trên news feed những ngày qua, nếu xét ở góc độ hẹp, thì một phần là do các em và gia đình các em đã không đủ thông tin để đánh giá được hết các rủi ro và ý thức được cái giá phải trả khi dấn thân ra nước ngoài bằng con đường bất hợp pháp, và nếu có sống sót thì cũng sẽ là một cuộc sống vất vưởng, chui lủi, tủi nhục ở xứ người.

Thật chua chát! ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác. Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư, xuất khẩu lao động dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi châu Âu, Mỹ, Canada, Úc, Nhật, Hàn…

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR ( permanent resident ) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường ! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp. Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách. Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về.

Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau bốn năm.

Tháng 7 năm 2017, Hiệp hội Quốc Gia Chuyên Viên Địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ. Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng !

Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn rau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Hàng triệu người Việt Nam ra đi bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng ! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu.

Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh. Nỗi lo bây giờ là về phẩm chất cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”. Họ lo ngại khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành; nền giáo dục và y tế không tạo đủ sự yên tâm nếu không muốn nói là lo sợ; các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn…

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo. Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần ! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Và có thể họ không yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy ?

Cũng có nhiều người có tri thức và nặng tình với quê hương đã hừng hực trở về, nhưng rồi cũng vội vã ra đi.

Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại ? Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi. Ngoài kia, trời Sàigòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát ma mị của Khánh Ly vọng từ nhà ai đó nghe nức nở, ám ảnh: “Có nghe đời nghiêng: Người ra đi có đôi dòng lệ…”

Theo Fb Đinh Việt Thành, 11.2019

Nếu Quý Vị thấy hữu ích, hãy chia sẻ bài viết này !

Gửi phản hồi

Người đăng tin

Lm. Giuse Lê Quang Uy, DCCT

Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế