CHỨNG TÁ YÊU THƯƠNG

MỘT VÀI KỶ NIỆM SỐNG ĐỘNG VỀ LINH MỤC FX. NGUYỄN VĂN THUẬN – Gs. Nguyễn Đăng Trúc ( Pháp ) – Kỳ 3


6. QUAN TRỌNG HƠN CẢ: CON NGƯỜI CẦU NGUYỆN

Từ ngày Lm. Thuận làm Bề Trên, không sáng nào, không tối nào, chủng sinh không thấy Bề Trên của mình ở mút đầu ghế bên trái cửa đi vào của Nhà Nguyện. Ngài quỳ thẳng người ở đấy trước khi chúng tôi đến Nhà Nguyện mỗi sáng, đích thân hướng dẫn nguyện gẩm, dâng Thánh Lễ buổi sáng mỗi ngày. Nếu tôi nói với bạn là trong suốt 6 năm tôi được ở dưới sự hướng dẫn của ngài, nhưng chưa một lần tôi thấy có một cử chỉ nhỏ nào sơ suất khi ngài dâng Thánh Lễ hay trong lúc đọc kinh, nguyện gẫm…, chắc bạn thấy thường thôi; nhưng qua kinh nghiệm riêng của tôi về cuộc sống tôn giáo, tôi thấy đây là dấu chỉ đích thực của một cuộc sống nội tâm sâu dày và kiên trì hiếm có.

Vào một dịp lễ trọng, một vị Linh Mục trong Chủng Viện, trong lúc ngây ngất đã hát câu cuối lễ “Ite Misa est” thành “Ite eleison”, mọi người tham dự Thánh Lễ không nín cười được và không ai có thể hát trả lời. Tôi quay nhìn lui cha Bề Trên, khuôn mặt ngài vẫn nghiêm trang. Chỉ một mình ngài cất tiếng hát “Deo gratias” với tất cả lòng cung kính như mọi khi.

Tất cả thư từ ngài gửi cho tôi khi tôi còn tu hay tôi đã xuất tu, ngài luôn nói câu cuối cùng nhắn nhủ: “Chúng ta phó thác mọi sự cho Mẹ Maria của chúng ta”. Ngài tha thiết sùng kính Mẹ, và đặt ngay tượng Mẹ ở giữa trung tâm các tòa nhà Chủng Viện.

Có lúc tôi hỏi về ý nghĩa kiến trúc Chủng Viện Hoan Thiện và đặc biệt về Nhà Nguyện tròn và có hồ nước chung quanh. Ngài giải thích rằng: Nhà Thờ là nơi gặp gỡ Chúa, và gặp gỡ người anh em, nhưng không phải gặp gỡ ào ào theo kiểu thế gian. Những lối xây cất chùa chiền trong văn hóa của dân tộc mình nhắc mình nhớ là phải “bước qua bên kia bờ” để có thể cầu nguyện. Ðầu óc tôi cứ vướng vấp về những lời nầy: cầu nguyện quá dễ, mà không dễ chút nào !

MỘT VÀI KỶ NIỆM KHÓ QUÊN

– Hè năm 1967, tôi dự định xuất tu, không còn ở trong Giáo Hoàng Học Viện Ðà Lạt. Ngài vừa nhận chức Giám Mục và đến thăm Ðại Học và Giáo Hoàng Học Viện Ðà Lạt. Ngài kêu riêng tôi để gặp ngài tại Ðại Học. Tôi chỉ nhớ một câu ngài nhắn tôi khi tôi trao đổi với ngài về quyết định của tôi. Ngài nói: “Tu cũng tốt mà về cũng là một ơn gọi riêng. Nhưng con nhớ điều nầy trong đời mình: điều tệ hại trong cuộc đời không phải phạm tội, nhưng là mất đi ý thức tội lỗi”.

– Năm 1975, tôi bị ở trong trại “cải tạo”. Vợ tôi ở nhà một mình với cháu nhỏ mới sinh được mấy tháng. Ngài đang gặp khó khăn trăm bề khi mới nhận chức Tổng Giám Mục Phó ở Sàigòn. Nhưng ngài đã nhớ đến tôi như đã nhớ đến trăm ngàn đứa học trò khác của ngài, và nhờ người đem đến cho vợ con tôi 30.000 đồng để mua gạo.

– Ðầu tháng 9 năm 1998, trước khi đến Strasbourg để nói chuyện với người trẻ Việt Nam tại Âu Châu, ngài nhờ cha Vincent Dollmann, dạy ở Ðại Chủng Viện Strasbourg, tìm xem còn có ai trong gia đình của vị Linh Mục trước đây làm cha xứ Phủ Cam, Huế, và đã rửa tội cho ngài. Vị Linh Mục nầy người gốc Alsace, Pháp ( mà Strasbourg là thủ phủ ). Cha Dollmann tìm khắp các nơi và không còn ai có tên ấy trong vùng. Nhưng khi hỏi đến quê của Linh Mục nầy, thì người ta tìm được một bà gọi vị Linh Mục ấy là ông cậu. Bà nầy là phu nhân của ông xã trưởng.

Trong buổi nói chuyện với giới trẻ, ngài nhắc đi nhắc lại ơn được làm Kitô hữu qua phép rửa tội của ngài 70 năm về trước; và cho rằng không có một lễ mừng nào vui hơn lễ thất tuần nầy của ngài, vì ngài có dịp đến cám ơn vị Linh Mục Chúa dùng để ban phép rửa cho ngài; cám ơn những bước chân anh hùng, máu đào tử đạo của các vị truyền giáo cho Việt nam. Và cũng vào dịp nầy ngài đã viết ra 10 sứ điệp Ðức Mẹ La Vang và loan báo với giới trẻ Việt nam về việc ngài đang tiến hành công việc sáng lập Cộng Ðoàn La Vang.

– Tháng 9 năm 1998, Tổng Giám Mục Thuận được Phong trào Focolare mời đến Quốc Hội Âu Châu để dự lễ gắn huy chương của cơ quan nầy cho bà Chiara Lubich. Ngài đem theo cha Lê Phú Hải và tôi đến thăm vị đại diện Toà Thánh bên cạnh Quốc Hội Âu châu và tham dự lễ gắn huy chương vị sáng lập Phong Trào Focolare, một người bạn thân của ngài.

Khi chúng tôi đưa ngài ra nhà gare sân bay Entzheim, ngài chỉ chiếc nhẫn Giám Mục thật lớn có vẻ quý giá mang ở ngón tay, và hỏi Sr. Nguyễn Thị Hường, cha Lê Phú Hải, cô Lâm Phương Mai và vợ chồng chúng tôi: “Ðoán xem cha mua bao nhiêu ?” Không ai trả lời liền, nhưng nghĩ bụng chắc cũng trên nghìn mỹ kim. Ngài không thấy ai trả lời liền nói: “Mới đây cha có dịp đi Israel, thấy người ta bán ngoài lề đường, cha mua nó một mỹ kim, rồi nhờ người khắc trong nhẫn chữ “Nada” ( hư không, lời của thánh Têrêsa Avila ). Ngó cũng được và là kỷ niệm quý !”

THAY LỜI KẾT

“Nada !”, hư vô trở về hư vô với bao chức vụ có tơ vương màu sắc trần thế.

Nhưng nếu nhớ đến Linh Mục PX. Nguyễn Văn Thuận để giúp nhau nên thánh, thì trên Thiên Đàng hẳn người anh Phanxicô Xaviê ấy cũng đồng ý và mỉm cưới với anh chị em còn lại của chúng ta.

NGUYỄN ÐĂNG TRÚC, Strasbourg, Pháp, 2003
Cựu chủng sinh Phú Xuân và Hoan Thiện Huế, Khóa 1959

Nếu Quý Vị thấy hữu ích, hãy chia sẻ bài viết này !

Gửi phản hồi

Người đăng tin

Lm. Giuse Lê Quang Uy, DCCT

Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế