CHỨNG TÁ YÊU THƯƠNG

MỘT VÀI KỶ NIỆM SỐNG ĐỘNG VỀ LINH MỤC FX. NGUYỄN VĂN THUẬN – Gs. Nguyễn Đăng Trúc ( Pháp ) – Kỳ 2

4. MỘT NHÀ GIÁO DỤC

Vào mùa mưa, tiểu chủng sinh lại chơi bi. Có chú chơi qua chơi về ăn được cả từng vài trăm viên bi. Tôi cũng không nhớ có phải phòng bán đồ trong Chủng Viện ( do Lm. Giacôbê Mẫn phụ trách ) bán ra hay không, nhưng hiện tượng lạ là vào mùa ấy là bi tràn ngập trong Chủng Viện.

Năm đầu cha Thuận làm Bề Trên, lớp tôi là lớp lớn nhất trong các lớp nhỏ ở lại với ngài ở Phú Xuân, nên tôi cảm thấy như mình có trách nhiệm và hơi bực vì các chú nhỏ đem bi vào nhà ăn, nhà ngủ, đôi lúc cả trong Nhà Thờ…; không những khó chịu vì tiếng động của bi mà thôi mà vì mấy chú còn nói chuyện bất cứ lúc nào với nhau về bi. Tôi hỏi cha Bề Trên: sao cha không phạt ? Ngài cười và nói nhỏ với tôi: “Ðể xem, một tuần nữa thôi chẳng có ma nào chơi bi nữa đâu. Chuyện gì nhỏ và không quan trọng đừng quá lưu ý mà làm cho lời nhắc nhở việc lớn phải nhàm đi, không ai nghe !”

Tính tôi lè phè: vào lớp hay vào Nhà Thờ đợt cuối cùng và thường trễ giờ đó là tôi. Có lẽ ngài đã chịu đựng tôi cũng khá lâu, nhưng cho đến năm tôi học lớp 4è thì tôi mới được chia việc “chấp lệnh”, tức là đánh chuông. Tôi cũng không lưu ý tại sao lại được giao việc nầy. Nhưng hai sự kiện sau đây làm tôi suy nghĩ. Có lần tối thứ bảy có chiếu phim; sáng chủ nhật đáng lý 5 giờ 45 phải đánh chuông thức dậy. Tôi ngủ mê chẳng nghe đồng hồ báo thức. Ðến 5 giờ 55 chuông lại rung đánh thức mọi người, tôi giật mình chạy xuống cột chuông thì thấy cha Bề Trên đã đứng đấy. Ngài cười nói với tôi: “Con ngủ ngon quá sức !”

Ðến cuối năm, tôi cũng không hiểu tại sao các bạn trong lớp tôi giao cho tôi đóng kịch. Tôi có tật hễ đứng dậy phát biểu là chảy mồ hôi tay, chân run lên và đầu óc choáng váng. Thế nhưng sau lần làm kịch nầy, tôi thấy những hiện tượng bịnh hoạn ấy bớt dần. Và hôm nay, quá năm mươi tuổi đầu, khi nhớ lại những việc đã qua thì mới hiểu được rằng, việc chọn mình làm “chấp lệnh”, đốc suất mình đóng kịch thì ra tất cả các quyết định là cử chỉ của nhà giáo dục ân cần xây dựng một cách nhẹ nhàng nhân cách con người mình.

Ai ở Tiểu Chủng Viện Phú Xuân hoặc Hoan Thiên hẳn còn nhớ là không mấy khi thấy cha Bề Trên gặp ai hoặc giải quyết, khuyên răn điều gì sau giờ ngủ trưa. Tò mò, tôi hỏi ngài về việc nầy. Ðây là câu trả lời: “Mình ngủ dậy trưa hay cáu lắm, làm sao mà giúp ai được việc gì cho nên”.

Nếu ai tò mò thì thấy tuần nào cũng thấy cha Bề Trên Thuận đi lượt một vòng các nhà cầu ở các tầng lầu. Một lần vô tình tôi gặp ngài đang đi dọc các nhà cầu cạnh nhà bếp và nhà chơi; có lẽ thấy tôi ngạc nhiên, nên ngài gọi tôi đến gần và nói: “Nhà cầu mà sạch sẽ, thì người ta không nhác đi cầu; và như vậy các chú sẽ thoải mái đỡ bịnh, học hành khỏi gián đoạn, và tính tình vui vẻ”.

Về tóc tai, ăn mặc, cha Thuận không se sua, nhưng luôn luôn chỉnh tề, sạch sẽ. Và không phải chỉ có một vài ngày trong tuần, hay vào dịp nầy dịp khác. Nhưng ngay khi đi nghỉ hè thoải mái chung với chúng tôi, chúng tôi cũng thấy cung cách nghiêm túc của ngài trong cách ăn mặc. Ngài thường nhắc lại cho mỗi chúng tôi: “Mình ăn mặc chỉnh tề là biểu lộ đức bái ái của Chúa, là tỏ lòng kính trọng người khác. Hãy nghĩ rằng nếu người ta chớp bóng quay phim lại cách ăn mặc của mình, nếu mình không xấu hổ gì là tốt.”

Năm 1965, lớp chúng tôi là lớp lớn nhất trong Chủng Viện. Không những mỗi đứa chúng tôi được trao trách nhiệm ( cứ hai người coi một lớp ) làm giám thị các lớp nhỏ, nhưng cả lớp còn được ngài đề nghị tổ chức một cuộc triển lãm về diễn tiến công đồng Vaticanô II cho cả Giáo Phận Huế đến xem. Làm sao một công việc như thế lại trao cho một nhóm chưa đầy mười thanh niên tuổi từ 17 đến 20 ? Nhưng chúng tôi đã hoàn thành tốt đẹp công việc tổ chức triển lãm nầy trong nhà khách Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện. Và thành công hơn cả là lòng tự tin, ý thức trách nhiệm và tinh thần cộng tác huynh đệ mà cha Bề Trên Thuận đã vun trồng nơi chúng tôi.

Trước đây, sau khi có việc “hô điểm” cuối mỗi kỳ họp các cha, và sau khi vào gặp cha Bề Trên để nghe “tin dữ”, chú nào bị “đuổi” ra khỏi Chủng Viện thì thấy đời mình như “cùi hủi” rồi; một sự thất bại ê chề trong cuộc đời; cha mẹ sẽ buồn; bạn bè e ngại đứng xa xa mà nhìn làm như phút chốc mình trở thành kẻ “tội lỗi”. Chú ấy phải dọn đồ đi về ngay; nếu nhà xa hay trở ngại chưa đi về được, thì ra nhà khách ở…

Nhưng từ ngày cha Bề Trên Thuận làm Bề Trên, cựu chủng sinh như được cha Bề Trên thương riêng, có lúc làm cho kẻ ở lại phải nêu thành câu hỏi. Ngài hay nói câu tiếng Pháp vào dịp nầy. Ði tu “c’est une chance”, mà ra đời “c’est une autre chance”. Mỗi người ra đi được đối xử một cách “trân trọng” khác nhau, nhưng không ai rời khỏi Chủng Viện trong thời Bề Trên Thuận mà mang một mặc cảm tiêu cực nào.

5. MỘT NHÀ CANH TÂN

Từ ngoài nhà khách Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện nhìn suốt đến cuối hành lang đầu nhà học, người ta nhận ra bức tượng đen bằng ximăng thật lớn của Thánh Bosco. Hình ảnh ấy không những nhắc nhở một lối giáo dục mới, nhưng là lời mời gọi những Linh Mục tương lai nên thực thi mục vụ trong tinh thần dấn thân phục vụ làm đầy tớ, ưu tiên cho những người nghèo.

Chiếc áo bên ngoài và tinh thần phục vụ: Những thay đổi tuần tự nơi cách ăn mặc của chủng sinh: nay được mang giầy; đồ học sinh thường thay cho chiếc áo dài đen quần trắng; nón nỉ “Hướng Đạo” thay dần kiểu nón cối; học chung với học sinh các trường bên ngoài…

Người chủng sinh dưới thời cha Bề Trên Thuận bên ngoài là một “con người học sinh” như bao nhiêu người khác. Là một người thích hoạt động đoàn thể Hướng Đạo, ngài cho các lớp được tổ chức sinh hoạt tương tự như những đoàn thể thanh niên khác (khóa chúng tôi vào năm 5è là khóa đầu tiên được sinh hoạt như thế trong Chủng Viện, năm đầu của thời Linh Mục Thuận làm Bề Trên ( 1961-1962 ). Sau nầy, có lớp còn được đi dự các khóa Hướng Đạo bên ngoài; và ngay trong Chủng Viện có tổ chức cơ sở Hướng Đạo.

Việc tiếp nhận người vào Chủng Viện không nhất thiết bị ràng buộc theo mẫu mực tuyển vào từ nhỏ; thời Bề Trên Thuận, những người gọi là “tu muộn” ( kỳ thực chẳng muộn gì, nhưng không theo tiến trình cổ điển ), nghĩa là bất kỳ vào tuổi nào cũng có thể được tiếp nhận vào Chủng Viện. Con số nầy càng ngày càng tăng, cộng thêm một số những người đã tu xuất trở lại tu làm Linh Mục. Những Linh Mục theo lối đào tạo như thế chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số những Linh Mục được đào tạo theo kiểu cổ điển.

Vào năm 1966, một năm trước khi ngài nhận chức Giám Mục, có lần ngài nói với lớp chúng tôi: “Cha có dự án xây rộng thêm bên ngoài nhà khách các chú để mở một xưởng nghề. Các chú mình tương lai phải học một nghề nghiệp để sinh sống, vì xã hội đang biến đổi, Giáo Hội cần Linh Mục có lối sống khác hơn phong cách sống xưa nay”. Ðây là một trong những dự án mà ngài đã chia sẻ với chúng tôi và ngài chưa bắt tay thực hiện được vì hoàn cảnh.

Nói tóm, Bề Trên Nguyễn Văn Thuận đã đồng hành với giáo huấn Vaticanô II để đưa kitô giáo vào trong cuộc sống con người cụ thể theo tinh thần canh tân của hiến chế mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng.

NGUYỄN ÐĂNG TRÚC, Strasbourg, Pháp, 2003
Cựu chủng sinh Phú Xuân và Hoan Thiện Huế, Khóa 1959
( Còn tiếp một kỳ )

Nếu Quý Vị thấy hữu ích, hãy chia sẻ bài viết này !

Gửi phản hồi

Người đăng tin

Lm. Giuse Lê Quang Uy, DCCT

Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế